


Bệnh có thể xảy ra ở các lứa tuổi, nhưng nhiều nhất ở trẻ nhỏ không tiêm vaccin BCG, trẻ dưới 2 tuổi. Trẻ càng lớn thì tần suất mắc bệnh càng ít. Lao màng não xảy ra từ 2-12 tháng sau sơ nhiễm lao, báo hiệu với triệu chứng sốt nhẹ, thay đổi tính nết. Sau đó 1 tuần, sốt 380C, nhức đầu, ói mửa, khám thấy có cứng cổ và đôi khi có dấu hiệu tổn thương thần kinh, co giật, hôn mê, lé mắt, động kinh, sụp mí mắt.
Nếu chẩn đoán chậm đưa đến di chứng nặng như di chứng tâm thần (thiểu năng trí tuệ, rối loạn tính tình, động kinh); yếu liệt nửa người, tay chân co rút, mù mắt, điếc... Lao kê là lao cấp ở phổi, xuất hiện trong những tuần lễ đầu sau sơ nhiễm lao với triệu chứng sốt cao, mạch nhanh, ói mửa, đau bụng, tiêu chảy, không có nốt hồng ban trên bụng (khác thương hàn) và luôn luôn có dấu hiệu hô hấp khó thở, tím tái. Trẻ bị lao kê thường dễ dẫn đến lao màng não.
Lao
đường
hô
hấp sau
sơ
nhiễm
ở
trẻ
nhỏ
thường
gặp
ở
trẻ
lớn,
gần
tuổi
dậy
thì
hơn
là
trẻ
nhỏ,
bao
gồm:
Lao
màng
phổi
(hiếm
gặp
ở
trẻ
em
dưới
5
tuổi,
thường
xảy
ra
ở
trẻ
lớn,
6
tháng
sau
sơ
nhiễm
lao)
với
triệu
chứng
mệt,
sút
cân,
ho,
đau
tức
ngực,
Xquang
phổi
cho
thấy
tràn
dịch;
lao
phổi
với
triệu
chứng
sốt
nhẹ
về
chiều,
mệt,
chán
ăn,
sút
cân,
tức
ngực,
ho
có
đờm
hay
có
máu.
Lao
phổi:
Ít
nhiều
tùy
theo
tuổi
khi
bị
sơ
nhiễm
lao,
chỉ
4%
khi
sơ
nhiễm
ở
trẻ
em
dưới
5
tuổi
và
xảy
ra
khi
trẻ
em
lớn
hơn
10
tuổi.
Trái
lại,
10%
ở
trẻ
em
lớn
từ
12-14
tuổi
bị
sơ
nhiễm
và
lao
phổi
xảy
ra
từ
1-2
năm.
Triệu chứng: sốt nhẹ về chiều, mệt, chán ăn, gầy, tức ngực, ho đờm hay có máu. Xquang phổi chia làm 2 loại: (1) Lao phổi không có hang: dạng nốt riêng rẽ hay kết hợp thành đám thâm nhiễm. (2) Lao phổi có hang: có hang tròn, nối liền rốn phổi với ống dẫn. Hay thường kết hợp với nốt, đám thâm nhiễm hay thường có kết hợp tổn thương màng phổi hay hạch trung thất. Chẩn đoán chính xác bằng tìm vi khuẩn lao trong đờm hay trong dịch dạ dày 3 ngày liên tiếp (soi trực tiếp và cấy).
Lao ngoài phổi: thường là biến chứng chậm hơn sau sơ nhiễm lao. Có nhiều dạng lao ngoài phổi như lao cột sống: giai đoạn đầu thường trẻ có biểu hiện đau vùng cột sống rồi từ từ gù lưng; lao xương, khớp: trẻ bị sưng đau khớp và chảy mủ ở xương khớp rò ra ngoài da; lao hệ niệu: trẻ có triệu chứng đi tiểu ra máu, thường có kèm theo sưng tinh hoàn nếu là bé trai; lao hạch: nổi hạch thường từng chùm, dính, nếu để trễ sẽ gây rò mủ làm sẹo xấu; lao ruột: đi tiêu lỏng hoặc đi tiêu ra đàm, máu kéo dài.
Ở trẻ em, việc chẩn đoán lao, tìm ra vi trùng lao thường khó hơn so với người lớn vì triệu chứng lâm sàng thường mờ nhạt nên dễ bị nhầm với các bệnh lý khác. Ngay cả bản thân trẻ bị lao phổi cũng khó tìm ra vi trùng lao vì trẻ chưa hoặc không biết khạc đờm. Đối với lao sơ nhiễm, trẻ có những triệu chứng, biểu hiện giống như bệnh cảnh viêm đường hô hấp nên rất khó chẩn đoán.
Về điều trị lao ở trẻ em cũng giống như của người lớn, tuy nhiên, phụ huynh phải tuân thủ điều trị cho con em mình đúng với hướng dẫn của thầy thuốc, điều trị đủ thời gian (6-9 tháng), đủ liều lượng thuốc, đúng phác đồ thì bệnh mới ổn định. Bệnh lao trẻ em có thể chữa lành được với hóa trị lao ngắn ngày, kể cả các thể nặng nếu được chẩn đoán sớm và điều trị đúng nguyên tắc (uống thuốc đúng, đủ, đều và không được bỏ sót).
Để phòng bệnh lao, sau khi sinh 3 ngày, trẻ phải được tiêm vaccin BCG phòng lao. Khoảng 1 tháng sau, nếu không thấy sẹo BCG ở cơ delta thì phải đưa trẻ đến các cơ sở y tế chuyên khoa để thử phản ứng IDRR. Trường hợp kết quả thử là âm tính thì cần cho trẻ tiêm lại vaccin phòng lao. Nhưng dù đã tiêm phòng lao, ở thời kỳ chưa có miễn dịch, không nên để trẻ tiếp xúc với nguồn lây. Ngoài tiêm BCG, trẻ cần được tiêm chủng đầy đủ các loại vaccin phòng bệnh và có chế độ nuôi dưỡng thích hợp với từng lứa tuổi.
Khi
trẻ
có
triệu
chứng
nghi
bị
lao
(ho
sốt
kéo
dài,
sút
cân
hoặc
không
lên
cân,
ra
mồ
hôi
trộm...),
cần
đưa
ngay
đến
cơ
sở
y
tế
chuyên
khoa
để
khám
và
điều
trị
đúng
theo
công
thức
của
chương
trình
chống
lao
quốc
gia,
đảm
bảo
theo
nguyên
tắc
DOST
(hóa
trị
liệu
ngắn
ngày
có
kiểm
soát).
Bệnh
lao
là
bệnh
gây
ra
do
lây
nhiễm.
Ở
trẻ
em,
phần
lớn
là
bị
lây
nhiễm
từ
những
người
thân
trong
gia
đình.
Khi
người
bị
bệnh
lao
ho,
vi
khuẩn
lao
có
trong
đờm
sẽ
đi
trực
tiếp
vào
đường
hô
hấp
của
người
đối
diện
và
làm
lây
bệnh.
Ngoài
ra,
nếu
người
mắc
bệnh
khạc
nhổ
bừa
bãi,
các
vi
khuẩn
có
trong
đờm
sẽ
theo
gió
phát
tán
vào
không
khí
làm
lây
cho
người
xung
quanh
Vì
vậy,
để
đề
phòng
cho
trẻ,
nếu
trong
nhà
có
người
bị
bệnh
lao
cần
phải
cách
ly
trẻ
với
người
bệnh.
Người
bị
bệnh
lao
nên
có
ý
thức
để
hạn
chế
sự
lây
lan
của
bệnh:
không
ho,
khạc
đờm
bừa
bãi;
tránh
tiếp
xúc,
hôn
hít
trẻ
nhỏ
cho
đến
khi
khỏi
bệnh
hoàn
toàn.
Những tin mới hơn
Những tin cũ hơn
Đang
truy
cập
:
7
Hôm
nay
:
620
Tháng
hiện
tại
:
5688
Tổng
lượt
truy
cập
:
34660088
