Bệnh lao và nguyên tắc điều trị lao
- Thứ bảy - 07/01/2017 16:16
- |In ra
- |Đóng cửa sổ này
Bệnh
lao
là
một
bệnh
do
vi
khuẩn
có
tên
là
Mycobacteria.tuberculosis
gây
nên,
bệnh
biểu
hiện
chủ
yếu
ở
phổi,
ngoài
ra
có
thể
gây
bệnh
ở
bất
cứ
một
cơ
quan
nào
khác,
lứa
tuổi
chủ
yếu
bị
bệnh
là
người
lớn,
nam
bị
nhiều
hơn
nữ,
những
người
có
yếu
tố
nguy
cơ,
suy
giảm
miễn
dịch
có
khả
năng
bị
bệnh
nhiều
hơn.
Trong
những
năm
gần
đây,
bệnh
lao
ổn
định
ở
mức
toàn
cầu
và
có
xu
hướng
giảm,
tình
hình
ở
Việt
nam
cũng
tương
tự,
tuy
nhiên
Việt
nam
hiện
vẫn
nằm
trong
22
quốc
gia
có
gánh
nặng
bệnh
lao
cao,
với
tỷ
lệ
người
hiện
mắc
khoảng
200
người
trên
100.000
người
dân,
tương
đương
khoảng
97.000
trường
hợp
mắc
mới
hàng
năm,
con
số
này
rất
cao
nếu
so
với
một
số
quốc
gia
như
Úc,
Mỹ,
với
số
người
hiện
mắc
chỉ
ở
con
số
2
đến
3
người
trên
100.000
dân.
Bệnh
lao
được
điều
trị
bằng
các
thuốc
đặc
trị
cho
vi
khuẩn
lao.
Những
thuốc
lao
có
hiệu
quả
nhất
trong
điều
trị
bệnh
lao
hiện
nay
là
Rifampicin,
Izoniazid,
Pyrazinamid,
Ethambuton
và
Streptomicin,
những
thuốc
này
được
goi
là
những
thuốc
hàng
1,
thuốc
đầu
tiên
Streptomicn
được
phát
hiện
lần
đầu
tiên
từ
những
năm
1945
và
trong
những
thập
kỷ
tiếp
theo.
Những
thuốc
kháng
lao
hàng
2,
những
thuốc
uống
bao
gồm
PAS,
Cycloserin,
Ethionamid,
Prothionamid
và
những
thuốc
tiêm
Kanamycin,
Amikacin,
Capreomicin,
và
những
thuốc
thuộc
nhóm
Quinolones,
như
Ofloxacin,
Ciprofloxacin,
Levofloxacin,
Morxifloxacin,.
Những
thuốc
lao
hàng
2
đường
uống
thực
chất
là
những
thuốc
đã
được
sử
dụng
từ
trước
khi
có
thuốc
lao
hàng
1
và
không
phải
là
thuốc
điều
trị
lao
hiệu
quả
do
thuốc
có
tác
dụng
phụ
nhiều,
khả
năng
tiêu
diệt
vi
khuẩn
thấp.
Tuy
nhiên
do
tỷ
lệ
vi
khuẩn
lao
kháng
thuốc
hàng
1
tăng
lên,
do
đó
những
thuốc
lao
này
được
sử
dụng
trở
lại
và
được
sử
dụng
kèm
theo
được
gọi
chung
là
thuốc
lao
hàng
2.
Một số đặc điểm sinh học, dược học và các nguyên tắc điều trị lao:
Do vi khuẩn lao sinh sản rất chậm 48-72h một lần, so với các vi khuẩn khác như vi khuẩn đường ruột trong một vài giờ, dẫn đến yêu cần cần uống thuốc đúng giờ và cùng lúc để đảm bảo được tác động cộng hợp, duy trì được nồng độ thuốc đạt hiệu quả diệt, ức chế vi khuẩn trong máu vào đúng những thời điểm mà vi khuẩn phân chia ( vì cơ chế của tất cả các thuốc đều nhằm vào thời điểm vi khuẩn phân chia). Vd: Uống thuốc vào 9h sáng thì sẽ tiếp tục uống vào 9h sáng hàng ngày.
Do vi khuẩn lao trong tổn thương không phải chỉ có một quần thể vi khuẩn duy nhất, người ta cho rằng có ít nhất là 4 quần thể. Có quần thể số lượng vi khuẩn nhiều, chuyển hóa mạnh, tồn tại ở thành những tổn thương hang lao ở phổi, quần thể này chịu tác dụng của các thuốc, thuốc tiêm Streptomicin rất có tác dụng với quần thể này, chính vì vậy mà vào giai đoạn tấn công ( 2 tháng đầu) để giảm nhanh số lượng vi khuẩn nên cần phối hợp nhiều thuốc, Streptomicin có tác dụng trong những trường hợp này. Ở giai đoạn duy trì (6 tháng tiếp theo), khi số lượng vi khuẩn đã giảm, việc điều trị nhằm tiêu diệt những vi khuẩn lao ít chuyển hóa hoặc tồn tại trong các tế bào ái toan, khi đó cần ít thuốc hơn và các thuốc có tác dụng trong tế bào, vd: Pyrazinamid. Ngoài ra khi số lượng vi khuẩn lớn vd: thể lao hang ở phổi, lao phổi xét nghiệm đờm AFB (+), có thể tồn tại trong đó cả những vi khuẩn có khả năng kháng các thuốc lao, việc phối hợp nhiều thuốc nhằm mục đích vi khuẩn không bị tiêu diệt bởi thuốc lao này ( đã bị kháng) sẽ bị tiêu diệt bởi các thuốc lao khác.
Liều thuốc lao nếu không đủ theo cân nặng sẽ không tiêu diệt được vi khuẩn. Ngược lại, nếu sử dụng thuốc quá liều, trong thời gian dài sẽ làm tăng nguy cơ nhiễm độc do thuốc. Chính vì vậy cần phải uống thuốc đúng liều, điều chỉnh liều thuốc khi cân nặng thay đổi, vd: sau khi khi cân nặng tăng. Ở trẻ em cần theo dõi sự thay đổi cân nặng trong quá trình điều trị.
Thuốc lao nên được sử dùng cùng với sự giám sát bởi nhân viên y tế hoặc người thân nhằm để đảm bảo thuốc lao được sử dụng để đảm bảo thuốc được người bệnh sử dụng đúng.
Quy trình phát hiện chẩn đoán và điều trị bênh lao hiện nay theo Chương trình chống lao quốc gia Việt nam:
Bệnh nhân khi được phát hiện có triệu chứng nghi lao bởi nhân viện y tế hoặc tự bệnh nhân chú ý phát hiện, cần được hướng dẫn hoặc tự đến ngay cơ sở có khả năng khám phát hiện bệnh lao như: trung tâm chống lao tuyến Huyện, phòng khám hô hấp bệnh viên Đa khoa, chuyên khoa Lao hoặc các cơ sở y tế tư nhân. Tại các cơ sở y tế đó bệnh nhân được khám hô hấp, xét nghiệm Xquang phổi, ngoài ra cần được chỉ định làm xét nghiệm đờm tìm vi khuẩn lao. Tùy theo điều kiện của từng cơ sở mà bệnh nhân có thể được làm các xét nghiệm như: soi đờm trực tiếp, nuôi cấy tìm vi khuẩn lao hoặc các xét nghiệm sinh học phân tử như PCR vi khuẩn lao, hoặc xét nghiệm Gen Xpert…
Việc kết luận một trường hợp lao được phân cấp tùy theo từng mức độ. Tuyến huyện, đa khoa tỉnh được phép kết luận những trường hợp lao phổi soi đờm tìm thấy vi khuẩn lao (kết luận lao phổi AFB (+)), trong trường hợp không tìm thấy vi khuẩn lao trong đờm nhiều lần nhưng vẫn nghi ngờ lao phổi, có thể hội chẩn với bác sỹ chuyên khoa Lao để kết luận những trường hợp này ( lao phổi AFB (-)). Lao ngoài phổi, lao trẻ em cần được chẩn đoán từ chuyên khoa lao tuyến tỉnh trở lên.
Sau khi được chẩn đoán lao. Bệnh nhân được đăng ký quản lý thuộc chương trình chống lao quốc gia. Thuốc điều trị bệnh lao được cung cấp miễn phí cho người bệnh trong quá trình nằm điều trị tại viện và thời gian điều trị ngoại trú sau này. Sau thời gian điều trị thuốc lao ban đầu từ 1 tuần cho đến lâu hơn, bệnh nhân được sao chép hồ sơ và chuyển về Trung tâm y tế quận/huyện, tại đây sẽ được quản lý trực tiếp tại Tổ chống lao, việc quản lý bao gồm đưa vào chương trình quản lý, cấp phát thuốc, theo dõi điều trị, theo dõi tác dụng phụ của thuốc, làm xét nghiệm cần thiết trong quá trình theo dõi và kết luận sau khi kết thúc điều trị. Bệnh nhân có thê được chuyển về quản lý tại tổ chống lao tuyến xã, phường.
Một số đặc điểm sinh học, dược học và các nguyên tắc điều trị lao:
Do vi khuẩn lao sinh sản rất chậm 48-72h một lần, so với các vi khuẩn khác như vi khuẩn đường ruột trong một vài giờ, dẫn đến yêu cần cần uống thuốc đúng giờ và cùng lúc để đảm bảo được tác động cộng hợp, duy trì được nồng độ thuốc đạt hiệu quả diệt, ức chế vi khuẩn trong máu vào đúng những thời điểm mà vi khuẩn phân chia ( vì cơ chế của tất cả các thuốc đều nhằm vào thời điểm vi khuẩn phân chia). Vd: Uống thuốc vào 9h sáng thì sẽ tiếp tục uống vào 9h sáng hàng ngày.
Do vi khuẩn lao trong tổn thương không phải chỉ có một quần thể vi khuẩn duy nhất, người ta cho rằng có ít nhất là 4 quần thể. Có quần thể số lượng vi khuẩn nhiều, chuyển hóa mạnh, tồn tại ở thành những tổn thương hang lao ở phổi, quần thể này chịu tác dụng của các thuốc, thuốc tiêm Streptomicin rất có tác dụng với quần thể này, chính vì vậy mà vào giai đoạn tấn công ( 2 tháng đầu) để giảm nhanh số lượng vi khuẩn nên cần phối hợp nhiều thuốc, Streptomicin có tác dụng trong những trường hợp này. Ở giai đoạn duy trì (6 tháng tiếp theo), khi số lượng vi khuẩn đã giảm, việc điều trị nhằm tiêu diệt những vi khuẩn lao ít chuyển hóa hoặc tồn tại trong các tế bào ái toan, khi đó cần ít thuốc hơn và các thuốc có tác dụng trong tế bào, vd: Pyrazinamid. Ngoài ra khi số lượng vi khuẩn lớn vd: thể lao hang ở phổi, lao phổi xét nghiệm đờm AFB (+), có thể tồn tại trong đó cả những vi khuẩn có khả năng kháng các thuốc lao, việc phối hợp nhiều thuốc nhằm mục đích vi khuẩn không bị tiêu diệt bởi thuốc lao này ( đã bị kháng) sẽ bị tiêu diệt bởi các thuốc lao khác.
Liều thuốc lao nếu không đủ theo cân nặng sẽ không tiêu diệt được vi khuẩn. Ngược lại, nếu sử dụng thuốc quá liều, trong thời gian dài sẽ làm tăng nguy cơ nhiễm độc do thuốc. Chính vì vậy cần phải uống thuốc đúng liều, điều chỉnh liều thuốc khi cân nặng thay đổi, vd: sau khi khi cân nặng tăng. Ở trẻ em cần theo dõi sự thay đổi cân nặng trong quá trình điều trị.
Thuốc lao nên được sử dùng cùng với sự giám sát bởi nhân viên y tế hoặc người thân nhằm để đảm bảo thuốc lao được sử dụng để đảm bảo thuốc được người bệnh sử dụng đúng.
Quy trình phát hiện chẩn đoán và điều trị bênh lao hiện nay theo Chương trình chống lao quốc gia Việt nam:
Bệnh nhân khi được phát hiện có triệu chứng nghi lao bởi nhân viện y tế hoặc tự bệnh nhân chú ý phát hiện, cần được hướng dẫn hoặc tự đến ngay cơ sở có khả năng khám phát hiện bệnh lao như: trung tâm chống lao tuyến Huyện, phòng khám hô hấp bệnh viên Đa khoa, chuyên khoa Lao hoặc các cơ sở y tế tư nhân. Tại các cơ sở y tế đó bệnh nhân được khám hô hấp, xét nghiệm Xquang phổi, ngoài ra cần được chỉ định làm xét nghiệm đờm tìm vi khuẩn lao. Tùy theo điều kiện của từng cơ sở mà bệnh nhân có thể được làm các xét nghiệm như: soi đờm trực tiếp, nuôi cấy tìm vi khuẩn lao hoặc các xét nghiệm sinh học phân tử như PCR vi khuẩn lao, hoặc xét nghiệm Gen Xpert…
Việc kết luận một trường hợp lao được phân cấp tùy theo từng mức độ. Tuyến huyện, đa khoa tỉnh được phép kết luận những trường hợp lao phổi soi đờm tìm thấy vi khuẩn lao (kết luận lao phổi AFB (+)), trong trường hợp không tìm thấy vi khuẩn lao trong đờm nhiều lần nhưng vẫn nghi ngờ lao phổi, có thể hội chẩn với bác sỹ chuyên khoa Lao để kết luận những trường hợp này ( lao phổi AFB (-)). Lao ngoài phổi, lao trẻ em cần được chẩn đoán từ chuyên khoa lao tuyến tỉnh trở lên.
Sau khi được chẩn đoán lao. Bệnh nhân được đăng ký quản lý thuộc chương trình chống lao quốc gia. Thuốc điều trị bệnh lao được cung cấp miễn phí cho người bệnh trong quá trình nằm điều trị tại viện và thời gian điều trị ngoại trú sau này. Sau thời gian điều trị thuốc lao ban đầu từ 1 tuần cho đến lâu hơn, bệnh nhân được sao chép hồ sơ và chuyển về Trung tâm y tế quận/huyện, tại đây sẽ được quản lý trực tiếp tại Tổ chống lao, việc quản lý bao gồm đưa vào chương trình quản lý, cấp phát thuốc, theo dõi điều trị, theo dõi tác dụng phụ của thuốc, làm xét nghiệm cần thiết trong quá trình theo dõi và kết luận sau khi kết thúc điều trị. Bệnh nhân có thê được chuyển về quản lý tại tổ chống lao tuyến xã, phường.